Oxy liệu pháp thông thường ở người lớn
Vị trí trong lộ trình: Bài 9/55 — Bậc thang hỗ trợ hô hấp.
Mục tiêu thực hành
Sau bài này, người đọc phải có thể vận dụng oxy liệu pháp thông thường ở người lớn để chọn mức hỗ trợ ít xâm nhập nhất nhưng không trì hoãn cứu hộ.
Định nghĩa và tổng quan
Oxy liệu pháp thông thường (conventional oxygen therapy, COT) cung cấp oxy qua gọng mũi hoặc mặt nạ với lưu lượng thấp hơn nhu cầu hít vào tối đa của nhiều bệnh nhân suy hô hấp. FiO₂ thực nhận vì vậy có thể thay đổi theo thiết bị, độ kín, lưu lượng, nhịp thở và thể tích khí lưu thông. Oxy là một điều trị có chỉ định, mục tiêu và độc tính; không dùng chỉ vì bệnh nhân khó thở nếu không có giảm oxy máu hoặc chỉ định đặc biệt.
Chỉ định và mục tiêu SpO₂
Chỉ định thường gặp là giảm oxy máu cấp, hồi sức ban đầu trong tình trạng đe dọa tính mạng, hoặc dự phòng thiếu oxy trong thủ thuật. AARC khuyến nghị mục tiêu SpO₂ 94–98% cho đa số người lớn nhập viện và 88–92% cho người bệnh COPD; BTS mở rộng mục tiêu 88–92% cho người có nguy cơ suy hô hấp tăng CO₂ cho tới khi có khí máu [1,2]. Mục tiêu phải cá thể hóa trong một số bệnh cảnh như ngộ độc carbon monoxide, methemoglobin máu, thai kỳ, bệnh tim bẩm sinh hoặc chỉ định giảm nhẹ.
Ở bệnh nhân nguy kịch, không trì hoãn oxy trong lúc chờ khí máu. Sau ổn định ban đầu, phải giảm FiO₂/lưu lượng về mức thấp nhất giữ được mục tiêu; hyperoxia không phải là “dự trữ an toàn”.
Lựa chọn dụng cụ
| Dụng cụ | Đặc điểm | Tình huống phù hợp | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Gọng mũi | Thoải mái, ăn nói được; FiO₂ biến thiên | Nhu cầu oxy thấp | Khô mũi; hiệu quả giảm khi thở nhanh/miệng |
| Mặt nạ đơn giản | FiO₂ cao hơn gọng mũi nhưng biến thiên | Nhu cầu trung bình, ngắn hạn | Cần lưu lượng đủ để hạn chế tái hít CO₂ |
| Mặt nạ Venturi | FiO₂ đặt trước tương đối chính xác | Nguy cơ tăng CO₂, cần kiểm soát FiO₂ | Phải dùng đúng đầu phun và lưu lượng nhà sản xuất |
| Mặt nạ có túi dự trữ | Nồng độ oxy cao khi lưu lượng đủ và túi còn phồng | Giảm oxy nặng trong khi chuẩn bị hỗ trợ cao hơn | Không bảo đảm FiO₂ 1,0; không thay thế HFNC/NIV/intubation |
Nếu cần lưu lượng >4 L/phút, AARC đề nghị cân nhắc làm ẩm; hiệu quả và phương pháp phụ thuộc thiết bị, thời gian dùng và dung nạp [1].
Đánh giá ban đầu
- Đánh giá ABC, tri giác, khả năng bảo vệ đường thở, công thở và huyết động.
- Xác nhận tín hiệu SpO₂: dạng sóng, tưới máu ngoại vi, cử động, sơn móng và vị trí đầu dò.
- Chọn mục tiêu SpO₂ trước khi chọn dụng cụ; ghi đơn oxy gồm thiết bị, lưu lượng/FiO₂, mục tiêu và kế hoạch theo dõi.
- Lấy khí máu sớm nếu nguy cơ tăng CO₂, toan máu, SpO₂ không tin cậy hoặc suy hô hấp nặng.
- Tìm và điều trị nguyên nhân: viêm/xẹp/phù phổi, hen/COPD, thuyên tắc, sốc, thiếu máu hoặc rối loạn đường thở.
Theo dõi đáp ứng
Đánh giá lại sau mỗi thay đổi bằng SpO₂, tần số thở, công thở, tri giác, huyết động và khí máu khi cần. Ở người nguy cơ tăng CO₂, tăng PaCO₂ hoặc giảm pH sau khi cho oxy đòi hỏi chỉnh oxy có kiểm soát và cân nhắc NIV; không ngừng oxy đột ngột nếu bệnh nhân vẫn giảm oxy.
Pulse oximetry có thể gây hiểu lầm trong tưới máu kém, cử động, dyshemoglobinemia và ngộ độc carbon monoxide. PaO₂/SpO₂ cũng không đánh giá đủ cung cấp oxy mô nếu Hb thấp hoặc cung lượng tim giảm.
Biến chứng và an toàn
Oxy quá mức có thể làm tăng PaCO₂ ở người dễ giữ CO₂, gây xẹp do hấp thu và phơi nhiễm oxy không cần thiết. Gọng/mặt nạ có thể gây khô, tổn thương da và khó chịu. Oxy làm tăng nguy cơ cháy: cấm hút thuốc, tránh nguồn lửa/tia lửa và kiểm tra kết nối bình–van–lưu lượng kế.
Các điểm thực hành quan trọng
- Kê oxy theo mục tiêu SpO₂, không theo một lưu lượng cố định cho mọi người.
- Mục tiêu thường là 94–98%; dùng 88–92% khi có nguy cơ tăng CO₂ cho tới khi có khí máu.
- FiO₂ của gọng mũi và mặt nạ thường quy thay đổi theo kiểu thở.
- Khí máu cần thiết khi nghi tăng CO₂ hoặc SpO₂ không đáng tin.
- Khó thở không có giảm oxy không tự động là chỉ định oxy.
- Điều trị nguyên nhân song song với sửa giảm oxy.
- Không để COT trì hoãn HFNC, NIV hay đặt nội khí quản.
- Giảm oxy về mức thấp nhất duy trì đúng mục tiêu sau khi ổn định.
Tích hợp tại giường
Không diễn giải oxy liệu pháp thông thường ở người lớn như một con số hoặc hình ảnh đứng riêng. Trước mọi thay đổi, hãy ghi rõ vấn đề cần sửa, biến sẽ điều chỉnh và dấu hiệu dùng để xác nhận đáp ứng. Sau can thiệp, đánh giá lại người bệnh, trao đổi khí, huyết động và đồ họa trong cùng điều kiện đo; nếu kết quả không phù hợp dự đoán, quay lại kiểm tra chẩn đoán cơ chế.
Câu hỏi tự kiểm tra
Ở người bệnh hiện tại, bất thường quan trọng nhất là gì, dữ liệu nào xác nhận cơ chế đó, thay đổi nào ít rủi ro nhất và bạn sẽ đánh giá lại bằng chỉ số nào? Nếu chưa trả lời đủ bốn câu, chưa nên chỉnh máy chỉ dựa vào một trị số hoặc một dạng sóng.
Tài liệu tham khảo
- Piraino T, Madden M, Roberts KJ, Lamberti J, Ginier E, Strickland SL. AARC Clinical Practice Guideline: Management of Adult Patients With Oxygen in the Acute Care Setting. Respir Care. 2022;67(1):115-128. doi:10.4187/respcare.09294. PMID:34728574. https://doi.org/10.4187/respcare.09294
- O'Driscoll BR, Howard LS, Earis J, Mak V; British Thoracic Society Emergency Oxygen Guideline Group. BTS guideline for oxygen use in adults in healthcare and emergency settings. Thorax. 2017;72(Suppl 1):ii1-ii90. doi:10.1136/thoraxjnl-2016-209729. PMID:28507176. https://doi.org/10.1136/thoraxjnl-2016-209729
- Goel NN, Ferreyro BL, Pitre T, et al. Noninvasive Respiratory Support for Adult Patients with Acute Respiratory Failure. An Official American Thoracic Society Clinical Practice Guideline. Am J Respir Crit Care Med. Published online June 29, 2026:aamag302. doi:10.1093/ajrccm/aamag302. PMID:42371750. https://doi.org/10.1093/ajrccm/aamag302