NEWBIE ICUTra cứu nhanh
Trang chủ›Thư viện›Kiến thức nền
Kiến thức nền · Nhập môn hồi sức

Dấu hiệu đỏ: Nhận diện sớm người bệnh đang diễn tiến nguy kịch

Một người bệnh nữ 72 tuổi đang điều trị nhiễm trùng tiết niệu. Buổi sáng, nhiệt độ 37,4°C, mạch 88 lần/phút, huyết áp 108/66 mmHg và SpO₂ 95% khi thở oxy gọng mũi 3 L/phút. Người nhà nói: “Hôm nay bà ít nói, không nhận ra tôi và không chịu

THỜI GIAN ĐỌC
22phút
CẬP NHẬT
2026-08-08
PHẠM VI
Tham khảo lâm sàng
HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH22 phút đọc

Dấu hiệu đỏ: Nhận diện sớm người bệnh đang diễn tiến nguy kịch

Sơ đồ Dấu hiệu đỏ của người bệnh nguy kịch: Đường thở — không bảo vệ; Hô hấp — kiệt sức; Tuần hoàn — giảm tưới máu; Thần kinh — tri giác xấu; Xu hướng — xấu nhanh.
Sơ đồ Dấu hiệu đỏ của người bệnh nguy kịch: Đường thở — không bảo vệ; Hô hấp — kiệt sức; Tuần hoàn — giảm tưới máu; Thần kinh — tri giác xấu; Xu hướng — xấu nhanh.

Hình 1. Năm nhóm dấu hiệu đỏ cần nhận diện và tăng mức chăm sóc. Sơ đồ nguyên bản của NEWBIE ICU, tổng hợp từ nội dung và tài liệu tham khảo của bài; không sao chép hình xuất bản.

Đối tượng: sinh viên y khoa, bác sĩ và điều dưỡng tại khoa Cấp cứu, khoa nội trú và ICU
Mục tiêu: nhận ra sự xấu đi trước khi người bệnh mất bù, kích hoạt hỗ trợ và bắt đầu hồi sức đúng lúc.

Mục tiêu học tập

Sau khi đọc bài này, người học có thể:

  1. Nhận diện các dấu hiệu đỏ về đường thở, hô hấp, tuần hoàn, thần kinh và toàn thân.
  2. Phân biệt một giá trị bất thường đơn lẻ với một xu hướng xấu có ý nghĩa.
  3. Giải thích vì sao dấu hiệu sinh tồn “bình thường” không luôn loại trừ bệnh nặng.
  4. Sử dụng thang cảnh báo sớm đúng vai trò, không thay thế nhận định lâm sàng.
  5. Kích hoạt báo động, đánh giá ABCDE và lập kế hoạch theo dõi sau khi nhận diện nguy cơ.

Tình huống mở đầu

Một người bệnh nữ 72 tuổi đang điều trị nhiễm trùng tiết niệu. Buổi sáng, nhiệt độ 37,4°C, mạch 88 lần/phút, huyết áp 108/66 mmHg và SpO₂ 95% khi thở oxy gọng mũi 3 L/phút. Người nhà nói: “Hôm nay bà ít nói, không nhận ra tôi và không chịu ăn.” Điều dưỡng nhận thấy nhịp thở 26 lần/phút, tay lạnh hơn hôm qua và lượng nước tiểu giảm.

Không có một con số “kịch tính”, nhưng có nhiều tín hiệu đồng hướng:

  • lú lẫn mới xuất hiện;
  • nhịp thở tăng;
  • cần oxy bổ sung để giữ SpO₂;
  • tưới máu ngoại vi và nước tiểu xấu;
  • người nhà nhận thấy thay đổi so với trạng thái nền.

Nếu chờ huyết áp tụt sâu hoặc SpO₂ giảm rõ mới báo động, cơ hội can thiệp sớm có thể đã mất. Nhận diện người bệnh nguy kịch là khả năng phát hiện mẫu hình xấu đi, không chỉ tìm một con số vượt ngưỡng.

1. “Nguy kịch” nghĩa là gì?

Bệnh nặng có thể được hiểu là trạng thái có rối loạn chức năng cơ quan sống còn, nguy cơ tử vong gần nếu không được chăm sóc và khả năng đảo ngược ở mức độ nào đó.1 Người bệnh có thể:

  • đã mất bù: tụt huyết áp, thiếu oxy nặng, hôn mê, thiểu niệu rõ;
  • đang bù: nhịp nhanh, thở nhanh, co mạch ngoại vi nhưng huyết áp còn duy trì;
  • có nguy cơ mất bù: cần tăng dần oxy, mới lú lẫn, mệt cơ hô hấp hoặc diễn tiến nhanh dù số đo hiện tại chưa quá bất thường.

Mục tiêu của nhận diện sớm là phát hiện hai nhóm sau trước khi chuyển thành ngừng hô hấp hoặc ngừng tuần hoàn.

2. Bốn nguồn tín hiệu phải đọc cùng nhau

2.1. Người bệnh trông như thế nào?

Ấn tượng tại giường có thể phát hiện nguy cơ trước khi có đủ số liệu:

  • vật vã hoặc im lặng bất thường;
  • không nói được câu đầy đủ;
  • tư thế phải ngồi để thở;
  • da tái, tím, lạnh, vã mồ hôi hoặc nổi bông;
  • kiệt sức, giảm tương tác hoặc “khác hẳn mọi ngày”.

Ấn tượng này không thay thế đo lường, nhưng là lý do để đánh giá ngay.

2.2. Sinh lý đang bất thường ở đâu?

Dấu hiệu sinh tồn tối thiểu gồm nhịp thở, SpO₂, mạch, huyết áp, nhiệt độ và tri giác. Tùy bệnh cảnh, cần thêm lượng nước tiểu, đường huyết, đau, khí máu, lactate và các thông số đặc hiệu. NICE yêu cầu ghi nhận các thông số sinh lý nền tảng và có kế hoạch về nội dung cũng như tần suất theo dõi.2

2.3. Xu hướng thay đổi ra sao?

Ba dạng xu hướng đặc biệt đáng lo:

  1. xấu dần: nhịp thở 18 → 22 → 28 lần/phút;
  2. cần tăng hỗ trợ: SpO₂ giữ nguyên nhưng oxy tăng từ khí trời lên gọng mũi rồi mặt nạ;
  3. không đáp ứng: huyết áp, tưới máu hoặc tri giác không cải thiện sau can thiệp phù hợp.

2.4. Có ai đang lo ngại không?

Lo ngại của điều dưỡng, bác sĩ, người bệnh hoặc gia đình có thể là tín hiệu sớm. Người nhà thường biết rõ tri giác, giao tiếp và khả năng vận động nền. NICE khuyến cáo chiến lược đáp ứng được kích hoạt bởi điểm cảnh báo sinh lý hoặc lo ngại lâm sàng.2 Hướng dẫn hồi sức năm 2025 cũng nhấn mạnh vai trò của hệ thống cảnh báo sớm, đội đáp ứng nhanh và cơ chế để người bệnh/gia đình báo động.3

Quy tắc thực hành: nếu có cảm giác “có điều gì đó không ổn”, hãy đo lại, khám lại, tìm xu hướng và truyền đạt lo ngại; đừng chờ một thang điểm cho phép bạn hành động.

3. Dấu hiệu đỏ theo hệ cơ quan

Các dấu hiệu dưới đây là tín hiệu cần đánh giá khẩn. Một dấu hiệu không tự xác định chẩn đoán; nhiều dấu hiệu có thể xuất hiện đồng thời vì suy cơ quan liên kết với nhau.

3.1. Đường thở

  • không thể nói hoặc giọng thay đổi nhanh;
  • thở rít, tiếng ngáy hoặc lọc xọc do dịch tiết;
  • dị vật, máu, chất nôn hoặc đàm mà người bệnh không tự làm sạch;
  • phù mặt, lưỡi hoặc cổ; bỏng vùng mặt/cổ;
  • giảm tri giác, mất phản xạ ho/nuốt;
  • chấn thương vùng hàm mặt hoặc cổ, khối máu tụ tiến triển.

Hành động: gọi ngay người có kỹ năng kiểm soát đường thở, bắt đầu ABCDE, mở và làm sạch đường thở bằng biện pháp phù hợp, cho oxy/hỗ trợ thông khí khi cần và chuẩn bị phương án đường thở nâng cao. Đường thở đang xấu có thể mất hoàn toàn trong vài phút.

3.2. Hô hấp

  • nhịp thở rất nhanh, rất chậm, không đều hoặc giảm dần;
  • nói từng từ, không thể đi hoặc nằm do khó thở;
  • co kéo cơ hô hấp phụ, cánh mũi phập phồng, thở nghịch thường;
  • SpO₂ thấp, giảm nhanh hoặc cần tăng oxy để duy trì;
  • tím trung tâm;
  • giảm tri giác, kích thích hoặc vật vã kèm suy hô hấp;
  • lồng ngực không đối xứng, giảm/mất âm phổi một bên;
  • “phổi im lặng” trong co thắt phế quản nặng;
  • dấu kiệt sức: người bệnh bớt vật vã nhưng thở nông hơn, tri giác giảm và trao đổi khí xấu.

WHO IITT coi các dấu như thở rất nhanh hoặc rất chậm, không thể nói/đi không trợ giúp, lú lẫn–buồn ngủ–kích thích và sử dụng cơ hô hấp phụ là dấu suy hô hấp nguy cơ cao.4

Hành động: đánh giá A và B ngay, ghi SpO₂ cùng phương tiện/lưu lượng oxy, hỗ trợ oxy hóa–thông khí theo bệnh cảnh và gọi đội hồi sức nếu có dấu thất bại. Đừng để SpO₂ tương đối ổn dưới oxy nồng độ cao che lấp mức độ nặng.

3.3. Tuần hoàn và tưới máu

  • huyết áp thấp hoặc giảm đáng kể so với nền;
  • mạch rất nhanh, rất chậm, không đều hoặc biên độ yếu;
  • da lạnh, vã mồ hôi, tái hoặc nổi bông;
  • thời gian làm đầy mao mạch kéo dài trong điều kiện đo thích hợp;
  • lú lẫn, bứt rứt hoặc giảm tri giác;
  • thiểu niệu hoặc nước tiểu giảm dần;
  • đau ngực kèm khó thở, vã mồ hôi, ngất hoặc bất ổn;
  • chảy máu đang tiếp diễn hoặc nghi xuất huyết kín;
  • lactate tăng/toan chuyển hóa trong bệnh cảnh phù hợp;
  • nhu cầu dịch, máu hoặc thuốc vận mạch tăng.

Không chờ tụt huyết áp mới chẩn đoán giảm tưới máu. Co mạch và nhịp nhanh có thể giữ huyết áp trong giai đoạn bù; người dùng thuốc chẹn beta có thể không nhịp nhanh rõ.

Hành động: bắt đầu ABCDE, gắn theo dõi, kiểm soát chảy máu, thiết lập đường truyền, tìm cơ chế sốc và điều trị nguyên nhân. Dịch truyền không phải đáp án mặc định cho mọi tụt huyết áp; phải dùng có mục tiêu và đánh giá lại.

3.4. Thần kinh

  • lú lẫn mới xuất hiện hoặc thay đổi hành vi;
  • giảm GCS/AVPU so với nền;
  • co giật kéo dài, lặp lại hoặc không hồi phục tri giác giữa các cơn;
  • yếu liệt, méo miệng, rối loạn ngôn ngữ hoặc mất phối hợp mới xuất hiện;
  • đau đầu đột ngột dữ dội, dấu màng não hoặc đồng tử bất thường;
  • kích thích không giải thích được;
  • hạ đường huyết hoặc rối loạn chuyển hóa kèm triệu chứng;
  • giảm tri giác cùng thở chậm, đồng tử co nhỏ hoặc nghi ngộ độc.

Hành động: kiểm tra lại A–C trước, đo đường huyết, ghi thời điểm cuối cùng còn bình thường, xử trí co giật/hạ đường huyết theo phác đồ và kích hoạt quy trình thần kinh cấp khi phù hợp. Tri giác xấu thường là dấu suy A, B hoặc C cho đến khi chứng minh khác.

3.5. Toàn thân, chuyển hóa và thận

  • thân nhiệt rất cao hoặc hạ thân nhiệt trong bệnh cấp;
  • ban xuất huyết không mất màu, ban lan nhanh, mày đay kèm khó thở/hạ huyết áp;
  • thiểu niệu, vô niệu hoặc cân bằng dịch xấu nhanh;
  • rối loạn điện giải nặng hoặc biến đổi ECG;
  • toan máu tiến triển;
  • đau dữ dội không tương xứng với khám;
  • bụng chướng, phản ứng thành bụng hoặc đau tăng nhanh;
  • sưng đau chi kèm mất mạch, tái/lạnh hoặc rối loạn cảm giác;
  • chảy máu tiêu hóa, sản khoa hoặc sau thủ thuật;
  • thiết bị xâm lấn di lệch, tắc hoặc ngừng hoạt động.

Hành động: đánh giá toàn thân có mục tiêu, giữ ấm, kiểm tra thiết bị/thuốc đang chạy, tìm nguyên nhân phụ thuộc thời gian và gọi chuyên khoa phù hợp mà không trì hoãn hồi sức A–C.

4. Những hội chứng không được bỏ sót

Suy hô hấp đang tiến triển

Dấu cảnh báo không chỉ là SpO₂ thấp. Nhu cầu oxy tăng, công thở tăng, PaCO₂ tăng, toan hô hấp, kiệt sức hoặc tri giác giảm đều có thể báo thất bại hô hấp. Người bệnh “yên hơn” sau giai đoạn vật vã có thể đang kiệt sức chứ không phải cải thiện.

Sốc

Hãy nghĩ sốc khi có bằng chứng tưới máu không đủ, dù huyết áp chưa thấp. Xác định nhanh cơ chế chính: giảm thể tích/mất máu, giãn mạch, suy bơm hay tắc nghẽn. Nhiều cơ chế có thể cùng tồn tại.

Nhiễm trùng kèm rối loạn cơ quan

Nhiễm trùng trở nên đặc biệt nguy hiểm khi đi kèm thay đổi tri giác, suy hô hấp, giảm tưới máu, thiểu niệu, rối loạn đông máu hoặc lactate tăng. Sốt không bắt buộc; người cao tuổi, suy giảm miễn dịch hoặc hạ thân nhiệt có thể không sốt.

Chảy máu

Xuất huyết có thể thấy được hoặc kín trong ngực, bụng, sau phúc mạc, tiêu hóa hay sản khoa. Nhịp nhanh, da lạnh, ngất, đau bụng/lưng, Hb giảm theo thời gian và nhu cầu dịch tăng là các gợi ý; Hb ban đầu chưa giảm không loại trừ mất máu cấp.

Hội chứng mạch vành/rối loạn nhịp nguy hiểm

Đau ngực có thể không điển hình hoặc vắng mặt, nhất là ở người cao tuổi, đái tháo đường và phụ nữ. Khó thở, ngất, vã mồ hôi, buồn nôn, tụt huyết áp hoặc phù phổi có thể là biểu hiện chính. Bất ổn huyết động, thiếu máu cơ tim, suy tim hoặc thay đổi tri giác đi kèm rối loạn nhịp là dấu nguy hiểm.

Cấp cứu thần kinh

Đột quỵ, xuất huyết nội sọ, viêm màng não–não, trạng thái động kinh và tăng áp lực nội sọ đều phụ thuộc thời gian. Nhận diện dấu khu trú, thời điểm khởi phát, co giật và mức tri giác; đồng thời không bỏ qua hạ đường huyết, thiếu oxy, tăng CO₂, sốc và thuốc.

5. Vì sao “số bình thường” có thể đánh lừa?

Số đo đạt được nhờ hỗ trợ cao

  • SpO₂ 96% dưới mặt nạ oxy khác hoàn toàn 96% khi thở khí trời.
  • Huyết áp 110/70 mmHg dưới liều vận mạch đang tăng không phải huyết động ổn định.
  • Nhịp thở bình thường trên máy thở không cho biết người bệnh tự thông khí được.

Cơ thể còn đang bù

Người trẻ có thể duy trì huyết áp dù mất thể tích đáng kể. Nhịp nhanh, co mạch da, thở nhanh và lo âu có thể xuất hiện trước tụt huyết áp.

Thuốc và bệnh nền làm mờ dấu hiệu

Thuốc chẹn beta làm hạn chế nhịp nhanh; thuốc an thần che lấp tri giác; thuốc hạ sốt làm giảm nhiệt độ; bệnh phổi mạn thay đổi SpO₂ và PaCO₂ nền; vận động viên có nhịp tim nền thấp.

Sai số đo lường

Băng huyết áp sai cỡ, pulse oximeter tín hiệu kém, điện cực lỏng, catheter nước tiểu gập hoặc ghi chép nhầm có thể tạo số giả. Khi con số không phù hợp với người bệnh, kiểm tra người bệnh trước, rồi kiểm tra thiết bị và đo lại.

Một thời điểm chưa cho biết diễn tiến

Giá trị “chưa vượt ngưỡng” nhưng xấu dần vẫn đáng báo động. Mức thay đổi, tốc độ thay đổi và số hệ cơ quan cùng xấu thường quan trọng hơn một ảnh chụp đơn lẻ.

6. Đọc xu hướng có hệ thống

So với trạng thái nền

Hỏi người bệnh, gia đình và hồ sơ:

  • tri giác và giao tiếp thường ngày ra sao?
  • huyết áp, mạch, SpO₂ và nhu cầu oxy nền?
  • lượng nước tiểu, creatinine và khả năng vận động trước đây?
  • có bệnh phổi mạn, suy tim, rối loạn thần kinh hay thuốc ảnh hưởng sinh lý?

So với lần đo trước

Đặt các quan sát theo thời gian, bao gồm cả mức hỗ trợ:

Thời điểmNhịp thởSpO₂ và oxyMạch/HATri giácNước tiểuCan thiệp/đáp ứng
08:002095%, khí trời92 / 118/70tỉnhcòn—
10:002494%, gọng 2 L/phút102 / 106/66hơi lẫngiảmbắt đầu oxy
12:003093%, gọng 4 L/phút116 / 94/58lơ mơrất ítkhông cải thiện

Bảng này cho thấy diễn tiến xấu rõ dù từng con số riêng lẻ có thể chưa tạo cảm giác “cực đoan”.

So với đáp ứng dự kiến

Sau can thiệp, đặt câu hỏi:

  • triệu chứng và dấu hiệu sinh tồn có cải thiện đúng thời gian dự kiến không?
  • cần mức hỗ trợ cao hơn để giữ cùng mục tiêu không?
  • có xuất hiện tác dụng bất lợi?
  • chẩn đoán ban đầu có còn giải thích được diễn tiến?

Không đáp ứng là một dấu hiệu đỏ và là lý do phải đánh giá lại chẩn đoán, nâng mức hỗ trợ hoặc gọi thêm chuyên gia.

7. NEWS2 và hệ thống cảnh báo sớm

NEWS2 sử dụng nhịp thở, SpO₂, huyết áp tâm thu, mạch, nhiệt độ, tri giác/lú lẫn mới và việc sử dụng oxy để chuẩn hóa nhận diện nguy cơ xấu đi.5 Nhiều cơ sở dùng NEWS2 hoặc một thang khác để xác định tần suất theo dõi và mức báo động.

Thang điểm làm tốt điều gì?

  • buộc ghi đủ các thông số quan trọng;
  • biến nhiều bất thường nhỏ thành tín hiệu tổng hợp;
  • hỗ trợ theo dõi xu hướng;
  • chuẩn hóa ngôn ngữ và ngưỡng kích hoạt đội hỗ trợ;
  • giúp hệ thống phân tầng đáp ứng.

Thang điểm không làm được điều gì?

  • không xác định nguyên nhân;
  • không thay thế ABCDE;
  • không loại trừ bệnh nặng khi điểm thấp;
  • không phản ánh đầy đủ mọi quần thể, bệnh khu trú hoặc mức hỗ trợ;
  • không thay thế lo ngại có cơ sở của nhân viên hay gia đình.

Hướng dẫn sử dụng NEWS2 nhấn mạnh bối cảnh đầy đủ và đánh giá lâm sàng vẫn là tối quan trọng.6 Một tổng quan hệ thống năm 2026 ghi nhận bằng chứng NEWS/NEWS2 làm giảm tử vong nội viện có độ chắc chắn thấp, dù công cụ được dùng rộng rãi để nhận diện nguy cơ; điều này nhắc chúng ta phân biệt khả năng dự báo với bằng chứng chắc chắn về cải thiện kết cục.7

Cách dùng an toàn

  1. Tính đúng theo hướng dẫn và quy trình của cơ sở.
  2. Ghi rõ oxy đang dùng; chỉ dùng thang SpO₂ 2 của NEWS2 khi có chỉ định phù hợp cho suy hô hấp tăng CO₂.
  3. So sánh điểm theo thời gian, không chỉ nhìn điểm hiện tại.
  4. Kích hoạt báo động theo ngưỡng địa phương.
  5. Báo động bất cứ khi nào có lo ngại lâm sàng, dù điểm dưới ngưỡng.
  6. Không dùng NEWS2 người lớn thay cho thang chuyên biệt ở trẻ em hoặc sản khoa.

8. Những người bệnh dễ bị bỏ sót

Người cao tuổi, suy yếu hoặc sa sút trí tuệ

Biểu hiện có thể là giảm ăn, lú lẫn, té ngã hoặc mất chức năng thay vì sốt/đau rõ. Phải biết trạng thái nhận thức và vận động nền.

Người suy giảm miễn dịch

Có thể nhiễm trùng nặng nhưng không sốt, không tăng bạch cầu hoặc dấu viêm mờ nhạt. Giảm ngưỡng đánh giá và hội chẩn theo bệnh cảnh.

Người dùng thuốc che lấp đáp ứng

Chẹn beta, an thần, opioid, corticosteroid, thuốc hạ sốt và thuốc chống đông có thể thay đổi biểu hiện hoặc nguy cơ.

Người có bệnh tim–phổi mạn

Giá trị nền khác quần thể chung. Điều đáng lo thường là thay đổi so với nền, mức hỗ trợ tăng hoặc mất khả năng bù.

Người sau phẫu thuật hoặc thủ thuật

Đau, an thần và dịch truyền có thể che lấp dấu hiệu; phải nghĩ đến chảy máu, suy hô hấp, nhiễm trùng, biến chứng phẫu thuật và thuyên tắc. “Mới mổ xong nên vậy” không phải lời giải thích đủ.

Thai phụ và người sau sinh

Sinh lý thai kỳ làm thay đổi dấu hiệu sinh tồn; đồng thời xuất huyết, tiền sản giật/sản giật, nhiễm trùng và thuyên tắc có thể diễn tiến nhanh. Dùng hệ cảnh báo sản khoa và gọi đội sản khoa.

Người không thể tự báo triệu chứng

Rào cản ngôn ngữ, giảm thính lực, khuyết tật trí tuệ, đặt nội khí quản hoặc an thần làm mất kênh báo động quan trọng. Cần người phiên dịch, công cụ giao tiếp và quan sát chủ động.

9. Khi nhận ra dấu hiệu đỏ: làm gì trong phút đầu?

1. Ở lại với người bệnh và gọi hỗ trợ

Kích hoạt đội đáp ứng nhanh/cấp cứu/hồi sức theo hệ thống địa phương. Nêu rõ vị trí, vấn đề chính và mức khẩn. Không chỉ nhắn “đến xem khi rảnh”.

2. Bắt đầu ABCDE

Đánh giá và xử trí mối đe dọa theo thứ tự. Nếu không đáp ứng và không thở bình thường, chuyển sang quy trình ngừng tuần hoàn.

3. Gắn theo dõi và kiểm tra thiết bị

SpO₂, ECG, huyết áp; kiểm tra oxy, máy thở, đường truyền, bơm thuốc và dẫn lưu. Đo đường huyết sớm khi thay đổi tri giác hoặc bệnh cảnh không rõ.

4. Khởi động can thiệp trong phạm vi năng lực

Mở đường thở, hỗ trợ oxy hóa/thông khí, kiểm soát chảy máu, thiết lập đường truyền và điều trị nguyên nhân phụ thuộc thời gian theo phác đồ. Không chờ đủ xét nghiệm trước can thiệp cứu mạng.

5. Đánh giá lại và lập kế hoạch thất bại

Ghi mục tiêu, thời điểm xem lại và điều gì sẽ kích hoạt nâng mức hỗ trợ. Nếu không cải thiện như dự kiến, mở lại chẩn đoán và gọi thêm nguồn lực.

6. Quyết định nơi chăm sóc

Người bệnh có cần ICU, phòng hồi sức, phòng mổ, can thiệp tim mạch, đơn vị đột quỵ hoặc chuyển tuyến không? Vận chuyển chỉ khi có kế hoạch, nhân lực và theo dõi phù hợp.

10. Báo động sao cho người nghe hiểu mức khẩn?

Một thông báo tốt cần ngắn, định lượng và có yêu cầu rõ:

“Tôi ở phòng 12 khoa Nội. Người bệnh nữ 72 tuổi đang xấu nhanh: mới lú lẫn, thở 30 lần/phút, SpO₂ 92% dù oxy tăng lên 6 L/phút, huyết áp giảm từ 118 xuống 88 mmHg và nước tiểu rất ít. Tôi đã bắt đầu ABCDE và cần đội hồi sức đến ngay.”

Cấu trúc SBAR có thể dùng:

  • S – Situation: vấn đề và mức khẩn hiện tại;
  • B – Background: bệnh chính, can thiệp và bệnh nền liên quan;
  • A – Assessment: ABCDE, xu hướng và mức hỗ trợ;
  • R – Recommendation: yêu cầu cụ thể và bước tiếp theo.

Nói “NEWS2 là 7” hữu ích cho phân tầng, nhưng không đủ. Người nhận cần biết thành phần nào xấu, xu hướng, mức oxy/vận mạch và đáp ứng với can thiệp.

11. Nhận diện sớm là trách nhiệm của cả hệ thống

Một cá nhân giỏi không thể bù hoàn toàn cho hệ thống yếu. Chương trình phòng ngừng tuần hoàn trong bệnh viện cần:

  • tần suất theo dõi phù hợp nguy cơ;
  • biểu đồ thể hiện được xu hướng và mức hỗ trợ;
  • ngưỡng gọi rõ ràng;
  • cơ chế cho phép gọi vì lo ngại lâm sàng;
  • đội đáp ứng có năng lực và thời gian phản hồi phù hợp;
  • thiết bị cấp cứu chuẩn hóa, sẵn dùng;
  • bàn giao có cấu trúc;
  • đào tạo, mô phỏng và phản hồi sau sự kiện;
  • kiểm tra các trường hợp ngừng tuần hoàn ngoài dự kiến để cải tiến.

NICE đề xuất chiến lược đáp ứng theo bậc: tăng theo dõi/cảnh báo điều dưỡng phụ trách ở nguy cơ thấp, gọi khẩn đội điều trị và nhân sự có năng lực cấp cứu ở nguy cơ trung bình, và đáp ứng ngay từ đội có năng lực hồi sức ở nguy cơ cao.2 Hướng dẫn “Systems Saving Lives” 2025 khuyến nghị bệnh viện cân nhắc triển khai hệ thống đáp ứng nhanh.3

Kế hoạch theo dõi phải cụ thể

Không chỉ viết “theo dõi sát”. Hãy ghi:

  • theo dõi thông số nào;
  • bao lâu đo lại;
  • mục tiêu và giới hạn chấp nhận;
  • ai phải được báo;
  • bước tiếp theo nếu xấu;
  • nơi chăm sóc phù hợp.

12. Những sai lầm thường gặp

Chờ đủ bộ dấu hiệu

Người bệnh không cần vừa tụt huyết áp, vừa giảm SpO₂, vừa hôn mê mới được coi là nguy kịch. Một mối đe dọa đơn độc như thở rít hoặc dấu thần kinh khu trú cấp đã đủ để hành động.

Chỉ phản ứng với ngưỡng, bỏ qua xu hướng

Nhịp thở tăng đều, oxy tăng dần hoặc tri giác giảm từng bước có thể quan trọng hơn việc chưa vượt ngưỡng báo động.

Cho rằng giảm nhịp thở là cải thiện

Trong suy hô hấp, người bệnh kiệt sức có thể thở chậm lại, nói ít hơn và giảm cử động. Phải xem cùng công thở, tri giác, khí máu và thông khí.

Quy lú lẫn cho tuổi già

Lú lẫn mới là dấu bệnh cấp cho đến khi được giải thích. Nghĩ đến thiếu oxy, tăng CO₂, sốc, nhiễm trùng, hạ đường huyết, thuốc và bệnh thần kinh.

Tin tuyệt đối vào monitor

Monitor có thể nhiễu hoặc che mất nhu cầu hỗ trợ cao. Khám người bệnh, kiểm tra dạng sóng và đo lại khi số liệu không phù hợp.

Báo bác sĩ nhưng không xác nhận đáp ứng

Gửi tin nhắn không đồng nghĩa người nhận đã hiểu hoặc đang đến. Trong tình huống khẩn, dùng giao tiếp vòng kín và nâng mức báo động nếu không có đáp ứng kịp thời.

Rời người bệnh không ổn định

Không để người bệnh có nguy cơ mất đường thở, suy hô hấp hoặc sốc ở một mình để đi lấy hồ sơ hay thiết bị. Gọi người mang đến và duy trì theo dõi.

Chuyển khoa để “giải quyết” thay vì hồi sức trước

Chuyển một người bệnh chưa ổn định mà không chuẩn bị có thể nguy hiểm. Bắt đầu hồi sức, xác định nhu cầu, chuẩn bị nhân lực–thiết bị và bàn giao trước vận chuyển.

13. Trở lại tình huống mở đầu

Người bệnh 72 tuổi có nhiễm trùng, lú lẫn mới, thở nhanh, nhu cầu oxy, tay lạnh và thiểu niệu. Đây là mẫu hình rối loạn nhiều cơ quan dù huyết áp và SpO₂ chưa cực đoan.

Cách hành động:

  1. Công nhận dấu hiệu đỏ: thay đổi tri giác, hô hấp và tưới máu đang xấu.
  2. Gọi hỗ trợ: truyền đạt xu hướng và mức oxy, không chỉ báo “bệnh nhân lừ đừ”.
  3. ABCDE: kiểm tra đường thở, công thở/oxy hóa, tuần hoàn–tưới máu, tri giác/đường huyết và dấu nhiễm trùng toàn thân.
  4. Theo dõi: ECG, SpO₂, huyết áp lặp lại, nước tiểu; kiểm tra thiết bị và đường truyền.
  5. Điều trị và thăm dò song song: hỗ trợ chức năng sống, lấy xét nghiệm có mục tiêu và điều trị nhiễm trùng/rối loạn cơ quan theo phác đồ.
  6. Đánh giá lại: theo dõi đáp ứng và chuẩn bị nâng hỗ trợ nếu huyết động, hô hấp hoặc tri giác không cải thiện.
  7. Nơi chăm sóc: đánh giá nhu cầu ICU hoặc đơn vị theo dõi cao hơn.

Lời của người nhà “bà không giống mọi ngày” không phải dữ kiện phụ; đó là thông tin về thay đổi so với nền và phải được kiểm chứng khẩn.

14. Bảng kiểm nhận diện trong 60 giây

Nhìn người bệnh

  • có nói bình thường và tương tác đúng không?
  • có vật vã, lơ mơ, kiệt sức hoặc khác trạng thái nền?
  • màu da, tư thế và công thở có bất thường?

Nhìn sinh lý

  • nhịp thở, SpO₂ kèm mức oxy;
  • mạch, huyết áp kèm dấu tưới máu;
  • tri giác và đường huyết khi cần;
  • nhiệt độ, nước tiểu và dịch mất.

Nhìn xu hướng

  • thông số nào đang xấu?
  • mức hỗ trợ nào đang tăng?
  • can thiệp nào không đạt đáp ứng?

Nhìn hệ thống

  • đã gọi đúng người chưa?
  • người nhận đã xác nhận chưa?
  • kế hoạch đánh giá lại và tiêu chí nâng báo động là gì?

15. Điểm cần nhớ

  • Người bệnh nguy kịch có thể đang mất bù, còn bù hoặc sắp mất bù.
  • Dấu hiệu đỏ đến từ biểu hiện, sinh lý, xu hướng, mức hỗ trợ và lo ngại của con người.
  • Thở nhanh, lú lẫn mới, nhu cầu oxy tăng, giảm tưới máu và thiểu niệu thường là những tín hiệu sớm quan trọng.
  • Huyết áp chưa thấp không loại trừ sốc; SpO₂ “đẹp” dưới oxy cao không loại trừ suy hô hấp.
  • Một giá trị bình thường không xóa được một xu hướng xấu.
  • NEWS2 hỗ trợ chuẩn hóa nhưng không thay thế ABCDE hay nhận định lâm sàng.
  • Khi có dấu hiệu đỏ: ở lại, gọi hỗ trợ, bắt đầu ABCDE, can thiệp trong phạm vi năng lực và đánh giá lại.
  • Báo động phải nêu vấn đề, xu hướng, mức hỗ trợ, can thiệp và yêu cầu cụ thể.
  • Nhận diện sớm chỉ cứu được người bệnh khi hệ thống tạo ra đáp ứng kịp thời.

Câu hỏi tự kiểm tra

  1. Nêu bốn nguồn tín hiệu dùng để nhận diện người bệnh đang xấu đi.
  2. Vì sao huyết áp bình thường không loại trừ sốc?
  3. Vì sao SpO₂ phải luôn được ghi cùng phương tiện và lưu lượng/FiO₂?
  4. Nêu năm dấu hiệu đỏ của suy hô hấp.
  5. NEWS2 có những giới hạn gì?
  6. Khi lo ngại lâm sàng nhưng điểm cảnh báo thấp, bạn nên làm gì?
  7. Một kế hoạch “theo dõi sát” cần được viết cụ thể như thế nào?
  8. Hãy dùng SBAR để báo động tình huống mở đầu.

Tài liệu tham khảo


Lưu ý sử dụng: Bài viết dành cho giáo dục, không thay thế đánh giá trực tiếp, hệ thống cảnh báo hoặc phác đồ báo động của cơ sở. Ngưỡng sinh lý và đáp ứng phải được cá thể hóa theo tuổi, thai kỳ, bệnh nền, mục tiêu chăm sóc và nguồn lực tại chỗ.

Footnotes

  1. Kayambankadzanja RK, Schell CO, Gerdin Wärnberg M, et al. Towards definitions of critical illness and critical care using concept analysis. BMJ Open. 2022;12:e060972. doi: 10.1136/bmjopen-2022-060972. Toàn văn. ↩

  2. National Institute for Health and Care Excellence. Acutely ill adults in hospital: recognising and responding to deterioration. Clinical guideline CG50. Khuyến cáo chính thức. Truy cập ngày 05/08/2026. ↩ ↩2 ↩3

  3. Resuscitation Council UK. Systems Saving Lives Guidelines 2025. Dựa trên European Resuscitation Council Guidelines 2025 Systems Saving Lives. Hướng dẫn chính thức. Truy cập ngày 05/08/2026. ↩ ↩2

  4. World Health Organization, International Committee of the Red Cross & Médecins Sans Frontières. Interagency Integrated Triage Tool và Reference Card. Công cụ chính thức của WHO. Truy cập ngày 05/08/2026. ↩

  5. Royal College of Physicians. National Early Warning Score (NEWS) 2: Standardising the assessment of acute-illness severity in the NHS. Updated report of a working party. London: RCP; 2017. Báo cáo chính thức. ↩

  6. Welch J, Dean J, Hartin J. Using NEWS2: an essential component of reliable clinical assessment. Clinical Medicine. 2022;22(6):509–513. doi: 10.7861/clinmed.2022-0435. PubMed. ↩

  7. Scott LJ, Jackson J, Dawson S, Knight T, Savović J. Does the use of National Early Warning Scores (NEWS or NEWS2) in healthcare settings improve patient outcomes: a systematic review. Systematic Reviews. 2026;15(1):73. doi: 10.1186/s13643-026-03088-y. PubMed. ↩